Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ, việc kết hôn với người nước ngoài đã trở thành một xu hướng phổ biến và không còn xa lạ. Tuy nhiên, quy trình đăng ký kết hôn với người nước ngoài thường khá phức tạp và yêu cầu sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ phía các cặp đôi.
Thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài
Theo thống kê của Bộ Tư pháp, từ năm 1995 đến cuối năm 2010, có trên 294.000 công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hoặc với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, thuộc trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhiều nhất là Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, Đức, Mỹ, Canada, Pháp, Thụy Điển, Trung Quốc.
Trong bối cảnh hiện nay, hơn 80% phụ nữ Việt Nam kết hôn với đàn ông nước ngoài hoặc người Việt định cư ở nước ngoài, trong khi chỉ khoảng 20% đàn ông Việt Nam kết hôn với phụ nữ nước ngoài. Hôn nhân giữa phụ nữ Việt và đàn ông Đài Loan, Hàn Quốc chủ yếu tập trung ở các tỉnh Tây Nam Bộ như Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang, Tây Ninh, Sóc Trăng, cũng như một số tỉnh phía Bắc như Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh.
Tuy nhiên, một thực tế đáng buồn là chỉ 7% trong số các hôn nhân này xuất phát từ tình yêu, phần lớn còn lại chủ yếu vì lý do kinh tế. Theo khảo sát của Viện Khoa học Lao động – Xã hội, 75% phụ nữ lấy chồng nước ngoài xuất thân từ những gia đình đông con, với 1/3 trong số họ có mức thu nhập không đủ sống trước khi kết hôn. Đặc biệt, 86% phụ nữ không có trình độ học vấn cao, nhiều người chưa qua tiểu học và không được đào tạo nghề.
(Nguồn: https://btgtu.binhthuan.dcs.vn/Tintuc/post/1570/van-de-hon-nhan-co-yeu-to-nuoc-ngoai-o%CC%89-vie%CC%A3t-nam)
Ngoài ra, không ít phụ nữ từ các gia đình có điều kiện khá giả cũng tìm kiếm hạnh phúc bên chồng nước ngoài. Tuy nhiên, hiện tượng kết hôn không đăng ký, đặc biệt tại các tỉnh như Hải Dương, Lạng Sơn, Thái Bình, đang gia tăng đáng báo động. Nhiều người còn bị lừa đảo qua các hoạt động môi giới bất hợp pháp, rơi vào tình trạng sống khó khăn, bị ngược đãi, hoặc thậm chí bị buôn bán và rơi vào các hoạt động mại dâm, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho cuộc sống của họ.
Như vậy, để tránh những rủi ro này, việc thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn là vô cùng quan trọng. Đăng ký hôn nhân không chỉ đảm bảo tính hợp pháp của mối quan hệ mà còn bảo vệ quyền lợi của các bên, giúp họ có được sự hỗ trợ cần thiết từ pháp luật trong trường hợp xảy ra tranh chấp. Do đó, các cơ quan chức năng cần tăng cường tuyên truyền và hướng dẫn thủ tục đăng ký hôn nhân, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các hoạt động môi giới hôn nhân để bảo vệ những phụ nữ muốn tìm kiếm hạnh phúc.
Pháp luật Việt Nam có cho phép ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài không?
Căn cứ theo khoản 3 Điều 38 Luật Hộ tịch 2014 và khoản 5 Điều 3 Thông tư 04/2020/TT-BTP thì khi nhận Giấy chứng nhận kết hôn hai bên nam nữ bắt buộc phải có mặt. Do đó, không thể ủy quyền cho người khác tiến hành thủ tục này tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, trong trường hợp một hoặc hai bên không thể có mặt để nhận Giấy chứng nhận kết hôn, pháp luật cũng có những quy định cụ thể cho trường hợp này (căn cứ khoản 3 Điều 32 Nghị định 123/2015/NĐ-CP) như sau:
- Trường hợp một hoặc hai bên nam, nữ không thể có mặt để nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì theo đề nghị bằng văn bản của họ, công chức làm công tác hộ tịch báo cáo Trưởng phòng Tư pháp thực hiện gia hạn thời gian trao Giấy chứng nhận kết hôn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn.
- Trường hợp hết 60 ngày mà hai bên nam, nữ không đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức làm công tác hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hủy Giấy chứng nhận kết hôn đã ký.
Như vậy, đối với thủ tục đăng ký kết hôn thì pháp luật về hộ tịch cho phép một trong hai bên có thể nộp hồ sơ đăng ký kết hôn mà không cần văn bản ủy quyền của bên còn lại. Tuy nhiên, khi nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì bắt buộc hai bên nam, nữ phải có mặt. Do đó, khi đăng ký kết hôn với người nước ngoài thì không được ủy quyền cho người khác thực hiện hay rõ hơn là không được ủy quyền đăng ký kết hôn với người nước ngoài vì đây là thủ tục liên quan đến nhân thân, yêu cầu sự tự nguyện và trực tiếp tham gia của cả hai bên.
Tại sao pháp luật không cho phép ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài?
Pháp luật không cho phép ủy quyền thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài vì nhiều lý do quan trọng liên quan đến việc bảo đảm quyền lợi, an ninh và tính chính danh của hôn nhân. Trước hết, việc này nhằm bảo đảm sự tự nguyện trong hôn nhân, một sự kiện pháp lý quan trọng cần có sự đồng thuận từ cả hai bên. Không cho phép ủy quyền giúp xác minh trực tiếp ý chí tự nguyện của các bên, tránh trường hợp bị ép buộc hoặc giả mạo, đặc biệt là trong bối cảnh có thể xảy ra rủi ro như buôn người, hôn nhân giả hoặc lạm dụng. Thứ hai, quy định này góp phần phòng chống hôn nhân giả để trục lợi pháp lý, khi một số người có thể kết hôn với người nước ngoài nhằm mục đích định cư, xin thị thực hoặc lợi dụng các quyền lợi khác. Việc yêu cầu các bên phải trực tiếp thực hiện thủ tục giúp giảm thiểu nguy cơ này. Hơn nữa, khi kết hôn, cơ quan chức năng cần xác minh nhân thân, tình trạng hôn nhân và năng lực hành vi dân sự của cả hai bên; việc trực tiếp tham gia của các bên đảm bảo quy trình này được thực hiện chặt chẽ và trung thực. Cuối cùng, không cho phép ủy quyền tạo ra cơ sở pháp lý rõ ràng, giúp bảo vệ quyền lợi của các bên trong các vụ việc tranh chấp sau kết hôn, như ly hôn, phân chia tài sản và quyền nuôi con, từ đó tránh tình trạng mâu thuẫn pháp lý về tính hợp lệ của hôn nhân.
Một số đề xuất cần chú ý để hiểu rõ về vấn đề kết hôn với người nước ngoài
Thứ nhất, các địa phương phải phối hợp với các ngành chức năng có nhiều giải pháp đồng bộ như: tăng cường quản lý nhà nước về hôn nhân, gia đình. Kịp thời sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến hôn nhân, gia đình nói chung, trong đó có vấn đề hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Hình thành mạng lưới các cơ sở hỗ trợ hôn nhân ở các địa phương để đáp ứng nhu cầu về tư vấn, hỗ trợ hôn nhân, gia đình và nâng cao chất lượng các dịch vụ hỗ trợ gia đình, kể cả tư vấn hôn nhân trong nước và nước ngoài. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, xử lý triệt để, kịp thời và nghiêm minh mọi hành vi, vi phạm về hôn nhân, gia đình, nhất là các hoạt động môi giới lấy chồng bất hợp pháp. Nhà nước đàm phán và ký kết với các nước các hiệp định song phương về tương trợ tư pháp. Đối với những nước có nhiều phụ nữ Việt Nam lấy chồng cần ký các hiệp định riêng biệt về hôn nhân có yếu tố nước ngoài để cùng hợp tác bảo vệ quyền và lợi ích của công dân Việt Nam.
Thứ hai, làm tốt công tác truyền thông – giáo dục. Chú trọng truyền thông- giáo dục về pháp luật và các kiến thức cần thiết. Cung cấp thông tin chính thức, trung thực về luật pháp, chính sách, phong tục, tập quán và văn hóa của các quốc gia và vùng lãnh thổ mà phụ nữ đang muốn lấy chồng để họ và gia đình biết, có cơ sở quyết định đúng đắn về hôn nhân. Tăng cường các chương trình phát triển kinh tế – xã hội ở các địa phương, tạo ra nhiều cơ hội học nghề, việc làm cho phụ nữ nông thôn. Thực hiện đồng bộ các chính sách việc làm, giảm nghèo, hỗ trợ vay vốn tạo việc làm cho phụ nữ, nhất là phụ nữ nghèo ở những nơi có nhiều phụ nữ lấy chồng nước ngoài. Quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng và các dịch vụ văn hóa, giáo dục, y tế ở cơ sở, tạo điều kiện cho người dân, đặc biệt là nữ thanh niên, có điều kiện tiếp cận thông tin, nâng cao dân trí, có quan niệm và nhận thức đúng về hôn nhân, gia đình. Đẩy mạnh đấu tranh, ngăn chặn tệ môi giới, lừa đảo phụ nữ lấy chồng người nước ngoài, buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới. Chú trọng giáo dục từ gia đình, dòng họ về nếp sống, gia phong để hình thành nhân cách, nâng cao bản lĩnh sống, giúp phụ nữ tăng khả năng thích ứng trước những biến động, rủi ro khi ra đời.
Cuối cùng, cần tăng cường vai trò trách nhiệm của các tổ chức đoàn thể như: Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh… trong việc giúp đỡ, tương trợ những phụ nữ lấy chồng nước ngoài vì hoàn cảnh éo le phải trở về nước để biến thực trạng hôn nhân “4 không” thành hôn nhân “5 biết”: biết văn hóa, phong tục tập quán, ngôn ngữ; biết tình trạng sức khỏe; hoàn cảnh gia đình của đối tượng sẽ kết hôn và hiểu biết pháp luật về hôn nhân gia đình; biết về thực trạng những cuộc hôn nhân nước ngoài thành công và thất bại của những chị em đi trước, từ đó xây dựng hôn nhân trên nền tảng có tình yêu sự hiểu biết và cảm thông chia sẻ.
Hoàng Lam – Thực tập sinh Văn phòng Luật sư Đồng Đội
Thông tin liên hệ:
Văn phòng luật sư Đồng Đội: P2708, Tòa nhà VP3 Bán đảo Linh Đàm, Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội
Điện thoại: 0936.026.559 – Email: tranxuantien1964@gmail.com
Website: https://dongdoilaw.vn
Facebook: https://www.facebook.com/dongdoilaw
Youtube: https://www.youtube.com/c/VănphòngluậtsưĐồngĐội
Tiktok: https://www.tiktok.com/@vpls_dongdoi