Trang chủ / Hôn nhân / Ngoại tình đến mức nào thì bị truy cứu trách nhiệm Hình sự?

Ngoại tình đến mức nào thì bị truy cứu trách nhiệm Hình sự?

Hiện nay, nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ xem “ngoại tình” là hành vi vi phạm pháp luật, bị xử lý hình sự. Philippines, Ấn Độ và lãnh thổ Đài Loan vẫn hình sự hóa tội ngoại tình. Ở Mỹ, trong khi nhiều bang coi ngoại tình là vấn đề đạo đức thì có đến 21 bang, như: Idaho, Massachusetts, Michigan, Oklahoma và Wisconsin… coi ngoại tình là tội phạm, có thể bị phạt tiền từ 10 USD (bang Maryland) đến tù chung thân (bang Michigan). Ở các quốc gia như Ả Rập Saudi, Pakistan, Somalia, những ai phạm tội “zina” (tức “gian dâm ngoài hôn nhân”) sẽ bị phạt tiền, bỏ tù, phạt roi hoặc tử hình trong những trường hợp đặc biệt. Trong khi đó, theo tạp chí The Week (Anh), pháp luật của  tất cả các nước thuộc châu Âu và nhiều khu vực ở Mỹ Latin không xem hành vi “ngoài vợ ngoài chồng” là tội phạm dù hành vi này vẫn để lại nhiều hậu quả pháp lý, đặc biệt là trong thủ tục ly hôn. Tại Hàn Quốc, theo một đạo luật có từ năm 1953, hình phạt áp dụng là phạt tù 2 năm đối với những ai lừa dối bạn đời. Tuy nhiên, từ tháng 2/2015, Tòa án Tối cao Hàn Quốc đã ra quyết định hủy bỏ đạo luật nói trên và không còn xem “ngoại tình” là tội phạm được quy định trong pháp luật hình sự.

Trong thời kì hội nhập hiện nay, để bắt kịp với cuộc sống văn minh, tiến bộ và công bằng của thế giới, bác bỏ những quan niệm cổ hử xưa kia: “Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng”, nhà nước ta đã ban hành rất nhiều quy định để bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng.

Theo Điều 36 Hiến pháp năm 2013 có quy định: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em”. Bên cạnh đó, tại điểm c khoản 1 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định cấm hành vi sau: “Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”

Thật ra, hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng không phải là quy định mới được Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 điều chỉnh. Nghiên cứu quy định tại Điều 147 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cho thấy, nhà làm luật quy định rất rõ, đó là: “Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.”

Đối với những trường hợp phạm tội trong khi đã có quyết định của Toà án tiêu huỷ việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì có thể bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Về cơ bản, nếu so sánh nội dung quy phạm tại Điều 182 BLHS năm 2015 với Điều 147 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) sẽ thấy không nhiều sự khác biệt. Thay vì phải cần Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/9/2001 hướng dẫn áp dụng các quy định tại chương XV “Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình” của Bộ luật Hình sự năm 199 cách hiểu thống nhất một số thuật ngữ, như thế nào là chung sống như vợ chồng; dấu hiệu nhận biết của tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng. Trên cơ sở kế thừa nội dung của Điều 147 BLHS năm 1999, vẫn với mức phạt phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm, ở Điều 182 BLHS 2015 nhà làm luật đã quy định ngay trong nội dung lời văn của điều luật theo hướng cụ thể hơn, định lượng rõ hơn dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” như:

– Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;

– Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Đối với những trường hợp mà “Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát” hoặc “Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó” thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Đối với trường hợp chưa đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể áp dụng khoản 7, Điều 3 Nghị định 67/2015/NĐ-CP để xử phạt hành chính từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:

–  Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

– Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
–  Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ.

Việc luật hóa hậu quả vào BLHS năm 2015 mang tính chất răn đe, trừng trị cao hơn, góp phần ngăn ngừa tình trạng vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng dẫn đến tỉ lệ ly hôn ngày càng cao như hiện nay.

Ngoài ra, việc chồng (vợ) ngoại tình, sống chung như vợ chồng hoặc có con riêng với người khác là yếu tố lỗi làm căn cứ dẫn đến ly hôn. Khi ly hôn, việc chia tài sản chung có tính đến yếu tố “lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng”cũng như các yếu tố khác (Khoản 2 khoản 3 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình). Như vậy, hành vi ngoại tình là một trong yếu tố được xem xét là một trong những yếu tố để xác định lỗi trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Theo đó, Tòa án có thể xem xét làm căn cứ để quyết định phần tài sản mà chồng (vợ) ngoại tình sẽ được chia ít hơn bạn khi phân chia tài sản chung của vợ chồng.

Như vậy có thể thấy,  không phải người nào ngoại tình cũng bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều kiện cần, đó là hành vi “chung sống như vợ chồng”. Hành vi ngoại tình mà không chung sống như vợ chồng chỉ có một sự “trừng phạt” duy nhất là nếu hành vi ngoại tình đó dẫn đến ly hôn sẽ là căn cứ xem xét để chia tài sản ít hơn. Dù quy định này cũng đã mang lại sự công bằng cho đôi bên, tuy nhiên thực chất chỉ là một nó chỉ mang tính chất động viên tinh thần chứ  không đủ sức răn đe, trừng phạt.

Theo hướng dẫn tại tiểu mục 3.1, Mục 3 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC, thì: “Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình.Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó…”

Mặc dù bộ luật Hình sự 2015 được cho là đã quy định một cách chi tiết và rõ ràng hơn về “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng” so với Bộ luật Hình sự 1999. Tuy nhiên, trước thông tin này, dư luận cho rằng việc xử phạt người ngoại tình có vẻ khó thực thi trong thực tế. Đó là một khái niệm mang yếu tố khoa học pháp lý không dễ áp dụng vào thực tiễn tư pháp. Từ những quy định của pháp luật hiện hành đến thực tiễn xử lý vẫn còn vướng một số bất cập sau:

Thứ nhất, đây là loại tội phạm xảy ra trong quan hệ nội bộ gia đình có liên quan đến mối quan hệ giữa vợ chồng, con cái, bố mẹ… Thực tế cho thấy, ngay như việc để xử phạt hành chính đối với hành vi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng theo quy định tại khoản 7  Điều 3  Nghị định 67/2015/NĐ-CP đã là khó. Bởi các nghi ngờ về ngoại tình vốn rất khó chứng minh theo nguyên tắc “dâm tang, gian chứng”. Không thể xem việc bắt gặp “trai trên gái dưới” thì đó là hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Nhiều người quan niệm đơn giản, “ngoại tình là vi phạm pháp luật” chỉ bằng niềm tin của mình, biết được chồng hoặc vợ của mình đang ngoại tình với người khác rồi từ đó kết luận đó là hành vi vi phạm pháp luật. Rất nhiều trường hợp ngoại tình lại không “chung sống như vợ chồng” mà lén lút hoặc công khai “quan hệ tình cảm” tại nhà nghỉ, cơ quan, công sở, thậm chí còn đưa cả về nhà riêng của vợ, chồng để ân ái… Trong trường hợp này, do họ không “chung sống như vợ chồng” mà chỉ “tàu nhanh”, “chớp nhoáng” với nhau nên ngay cả xử lý hành chính cũng không thực hiện được, chưa nói đến truy cứu trách nhiệm hình sự.

Theo như đúng tinh thần của quy định trên, nếu người chồng hoặc người vợ hoặc cả người chồng và người vợ có quan hệ tình cảm với người khác mà không chung sống với nhau như vợ chồng với người đó, không có con chung, không được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng… thì không thể xem xét đây là hành vi vi phạm pháp luật. Trong khi, hành vi ngoại tình mà không “chung sống như vợ chồng” cũng để lại những hậu quả không thua kém gì với hành vi ngoại tình mà có “chung sống như vợ chồng”.

Thứ hai, để chứng minh vì lý do một bên chung sống như vợ như chồng với người khác dẫn tới ly hôn, tự sát… phải chứng minh có mối quan hệ nhân – quả: ly hôn vì lý do một bên chung sống như vợ như chồng với người khác; tự sát phải có chứng cứ như: thư tuyệt mệnh vì lý do một bên sống như vợ như chồng với người khác dẫn đến phải tự sát; chứng cứ chứng minh con cái tự sát là do bố, mẹ gây ra, thời điểm viết thư tuyệt mệnh;… Ly hôn có thể xuất phát từ vô vàn lý do, trong đó hành vi “ngoại tình” có thể là một lý do nhưng không phải là lý do chính dẫn đến ly hôn thì có truy cứu trách nhiệm hình sự không? Việc cơ quan điều tra phải chứng minh việc chung sống như vợ chồng với người khác là nguyên nhân dẫn đến vợ chồng ly hôn là điều thật không phải dễ. Một tháng đôi ba lần họ “đến” với nhau, hoặc nhân chuyến đi công tác dài ngày, rồi thỉnh thoảng là những món đồ trang sức đắt tiền nhân ngày sinh nhật,… họ tặng cho nhau, thì không thể coi đó là “chứng cứ” xử phạt hành vi vi phạm. Cơ sở pháp lý quan trọng nhất để xem xét hành vi “ngoại tình” phụ thuộc vào yếu tố “chung sống như vợ chồng”, nhưng nếu không viện dẫn được chứng cứ chứng minh này, thì rõ ràng quy định trên rất khó đi vào thực tế.

Thứ ba, việc tố cáo nhằm xử lý về hình sự trong quan hệ vợ chồng khi vi phạm chế độ một vợ, một chồng là cũng rất khó. Bởi lẽ các bên còn ràng buộc mối quan hệ con cái và gia đình, những người “trong cuộc” rất sợ tai tiếng khi chuyện “ngoại tình” bị vợ hoặc chồng hay người thân bên vợ, bên chồng phanh phui, ảnh hưởng đến danh dự, uy tín cá nhân cũng như công việc của họ tại nơi làm việc. Dù việc tố cáo xử lý hình sự về hành vi này là có, nhưng thực tế xét xử tuy có nhưng hầu như chỉ xảy ra với trường hợp người chồng quá bạc tình bạc nghĩa, lãng quên mọi trách nhiệm mà trước đó họ đã từng hứa hẹn với người phụ nữ. Còn ngược lại, tất cả  rơi vào im lặng. Đa số phụ nữ Việt Nam đều có tâm lí “e ngại”, người vợ không bao giờ để người chồng đi tù, bởi ai sẽ cùng gánh trách nhiệm nuôi con với họ? Hơn nữa, để tố cáo phải có chứng cứ; để có chứng cứ phải theo dõi, việc theo dõi phải thật khéo léo nếu không thận trọng sẽ bị coi xâm phạm quyền tự do cá nhân, rất khó có thể thu thập chứng cứ chứng minh “chung sống như vợ như chồng” trên thực tế theo quy định của pháp luật.

Mặt khác, theo quy định người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình “biết rõ” là đang có chồng, có vợ . Cụm từ “biết rõ” ở đây phải được hiểu là có căn cứ để chứng minh sự “biết rõ” đó, như có nhìn thấy Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; là bạn bè thân thiết của vợ hoặc chồng;… và quan trọng nhất phải nhận biết rõ tình trạng hôn nhân của người đó.

Tuy là khó xử lý hình sự tội phạm này trên thực tế, nhưng quan điểm của nhà làm luật vẫn phải quy định trong BLHS để nhằm mục đích răn đe, phòng chống các vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. Đó là biện pháp pháp lý làm giảm thiểu tình trạng không tuân thủ chế độ hôn nhân tiến bộ một vợ một chồng , vợ chồng bình đẳng (là những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 2 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014) tránh để lại những hậu quả, hệ lụy không tốt đối với người vợ hoặc người chồng, con cái, gia đình của người vi phạm.

Về hình phạt, quy định như vậy đã hợp lý. Điều cần làm là sự chủ động của các cơ quan tiến hành tố tụng khi phát hiện các trường hợp vi phạm để tiến hành xử lý phù hợp. Hiện nay, hầu như chúng ta chưa thấy việc người vợ hay người chồng vì “ngoại tình” mà bị xử lý hình sự; có chăng thì họ chỉ bị xử lý vi phạm hành chính và dư luận xã hội lên án về mặt đạo đức. Do đó, dường như rất nhiều người không hề lo lắng việc “ngoại tình” sẽ dẫn đến bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên quy định tại Điều 147 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) mới không có sức răn đe. Bên cạnh đó, cần phải nâng mức xử phạt vi phạm hành chính lên vì mức phạt thấp như hiện nay không mang lại hiệu quả cao.

Bởi vậy, thiết nghĩ để điều luật có tính khả thi khi áp dụng, những người làm luật cần nới rộng phạm vi để xử lý đối với các trường hợp vi phạm Luật Hôn nhân và gia đình, không nên chỉ bó hẹp trong phạm vi “chung sống như vợ chồng” mới xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Xem tiếp

Cần quy định cụ thể thời hạn để Tòa án tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự

Tống đạt văn bản tố tụng trong tố tụng dân sự được hiểu là việc …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *