Trang chủ / Tin tức / Blog / LUẬT SƯ VỚI VIỆC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

LUẬT SƯ VỚI VIỆC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

  1. Việc thi hành án dân sự có yếu tố nước ngoài liệu có khó?

Giai đoạn thi hành án dân sự là giai đoạn tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Nhiều quan điểm cho rằng, việc tham gia của Luật sư trong giai đoạn này không cần thiết khi quyền và nghĩa vụ của các bên đã được quy định rõ ràng. Tuy nhiên quan điểm này không hoàn toàn đúng, trên thực tế việc tham gia của Luật sư trong giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo thực thi pháp luật, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Đặc biệt, việc thi hành án dân sự khi người phải thi hành án đang ở nước ngoài thì khó lại càng khó.

Theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 35 Luật thi hành án dân sự, thẩm quyền thi hành bản án quyết định dân sự có yếu tố nước ngoài mà có người phải thi hành án ở nước ngoài thuộc về cơ quan thi hành án cấp tỉnh.

Với nhiệm vụ trên, cơ quan này phải tiến hành thực hiện ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định Điều 50 Nghị định số 62/2015/NĐ- CP  được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 33/2020 để tống đạt văn bản thông bảo quyết định thi hành án cho người phải thi hành án hoặc xác minh điều kiện thi hành án theo đề nghị của người được thi hành án hoặc trong trường hợp cơ quan thi hành án chủ động ra quyết định thi hành án. Theo đó, thủ tục ủy thác tư pháp được thực hiện theo quy định của luật tương trợ tư pháp về dân sự và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trên cơ sở kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh giải quyết như sau:

– Trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày Bộ Tư pháp gửi hồ sơ ủy thác tư pháp hợp lệ mà nhận được đủ kết quả theo yêu cầu thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc thi hành án theo quy định.

Trường hợp nhận được kết quả ủy thác nhưng chưa đáp ứng yêu cầu thì cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc ủy thác tư pháp lần thứ hai. Nếu đã ủy thác tư pháp lần 02 mà không đáp ứng yêu cầu thì theo quy định tại Điều 43 Luật thi hành án dân sự cơ quan thi hành án dân sự  thực hiện việc thông báo văn bản đã ủy thác và các văn bản khác trong quá trình thi hành án trên phương tiện thông tin đại chúng.

– Trường hợp hết thời hạn quy định tại điểm a khoản này mà không có kết quả hoặc không có thông báo về việc không thực hiện được việc ủy thác tư pháp thì việc thông báo văn bản đã ủy thác và các văn bản  khác trong quá trình thi hành án trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 43 Luật thi hành án dân sự.

Như vậy, nếu người phải thi hành án ở ở ngoài và không có tài sản tại Việt Nam thì việc bản án, quyết định của Tòa được thi hành trên thực tế là rất thấp nếu không nói là không thể thực hiện được. Bởi việc ủy thác tư pháp để tống đạt thông báo quyết định thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án ở nước ngoài cũng không có nhiều ý nghĩa trên thực tế trong quá trình thi hành án, thậm chí nhiều vụ việc còn “ bế tắc ”khi người phải thi hành án đều không tự nguyện thi hành án, không phụ thuộc họ nhận được hay không nhận được văn bản ủy thác tư phápLuật thi hành án dân sự

 

  1. Luật sư chia sẻ việc giải quyết thành công vụ việc thi hành án khi người phải thi hành án ở nước ngoài

Luật sư Trần Xuân Triền, Trưởng Văn phòng Luật sư Đồng Đội – nguyên Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp huyện đã rất thành công trong việc giải quyết các vụ việc thi hành án dân sự. Luật sư chia sẻ, những khách hàng tìm đến Luật sư là những người thực sự bế tắc, không định hướng được cách giải quyết, những vụ án mà nhiều Luật sư trẻ hiện nay rất ngao ngán khi đụng vào. Mới đây, Luật sư đã giải quyết thành công một vụ việc thi hành án oái ăm nhưng để lại nhiều cung bậc cảm xúc, đồng hành và đưa ra các hướng đi để nhanh chóng giải quyết, khép lại đau khổ cho những hoàn cảnh đáng thương. Một vụ án mà Luật sư đã vận dụng kỹ năng thuyết phục một cách triệt để và linh hoạt thay vì áp dụng quy định pháp luật một cách khuôn mẫu.

Cụ thể vụ việc như sau:

Bà H (Quốc tịch Mỹ) là chủ sở hữu thửa đất tại số nhà 298 đường THĐ, đã  làm thủ tục ủy quyền cho chồng – ông C thay mặt bà H ký hợp đồng quản lý, xây dựng ngôi nhà và thực hiện các nghĩa vụ đóng thuế, đóng góp các khoản tiền khác liên quan đến bất động sản này.

Ngày 29/11/2016, ông C ký hợp đồng tư vấn thiết kế với công ty TNHH Tư vấn và xây dựng PLT để lập hồ sơ thiết kế xây dựng công trình và làm thủ tục xin cấp giấy phép xây dựng. Sau khi hoàn thành các thủ tục, ông C đã thỏa thuận miệng thống nhất với ông A (không có giấy phép xây dựng) thi công xây dựng nhà tại số 298 đường THĐ, với giá thực hiện hợp đồng là 830.000 đồng/m2 (giá trị nhân công).

Sau đó, ông A đã chỉ đạo thi công khung sắt, đào hố móng và đổ bê tông được 04 trụ móng ở phần giáp đường MXT. Trong quá trình xây móng, ông A nhận thấy kết cấu nhà 296 không được giằng móng, nền đất yếu và đã thảo luận lại với ông C về việc đào hố móng cạn hơn thiết kế là 20cm. Tuy nhiên, ông A lại không áp dụng các biện pháp thi công chống vách hố đào, thi công tường chắn đất, chống sạt lở, lún, biến dạng công trình ngầm liền kề theo quy định tại mục 4.2.23 TCVN 4447:2012: “Khi đào hố móng công trình, đào hào ngay bên cạnh hoặc đào sâu hơn mặt móng của những công trình đang sử dụng (nhà ở, xí nghiệp, công trình, hệ thống kỹ thuật ngầm…) đều phải tiến hành theo đúng quy trình công nghệ trong thiết kế thi công, phải có biện pháp chống sụt lở, lún và làm biến dạng những công trình lân cận và lập bảng vẽ thi công cho từng trường hợp cụ thể.”

Và hậu quả của việc thi công thiếu trách nhiệm trên là vào ngày 20/04/2017 nhà số 296 bị sụp đổ hoàn toàn, chủ nhà là ông D chết trên đường đi cấp cứu, hai công nhân xây nhà là anh E và chị F bị thương nhẹ, nhà số 294 và hệ thống lưới điện tại hiện trường bị hư hỏng nặng.

Vụ án đã được đưa ra xét xử, theo đó bị cáo A phạm tội “Vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” tại điểm c khoản 3 Điều 298 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với hình phạt 05 năm tù. Bên cạnh đó, do gia đình bị cáo không có khả năng để bồi thường cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông C đồng ý liên đới bồi thường. Theo đó, bị cáo A cùng vợ chồng ông C bà H phải liên đới bồi thường thiệt hại cho các bị hại theo quy định tổng số tiền là 2.889.049.843 đồng (chia phần mỗi bên là 1.444.525.000 đồng). Tuy nhiên, khi vợ chồng ông C, bà H đã thực hiện xong phần nghĩa vụ của mình, ông A vẫn không có điều kiện thi hành án (có tài sản nhưng không đủ để thi hành nghĩa vụ bồi thường liên đới). Do vậy, Cục thi hành án tỉnh K đã yêu cầu kê biên tài sản là quyền sử dụng đất được Nhà nước giao đất đối với thửa đất 257, tờ bản đồ số 12, diện tích 90,76m2 cùng với tài sản trên đất của bà H tọa lạc tại 298 đường THĐ để thi hành án.

Bà H đã làm đơn đề nghị kháng nghị bản án sơ thẩm và phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm do bà không đồng ý việc cơ quan THA yêu cầu bà H phải có nghĩa vụ bồi thường trong khi TAND 2 cấp xác định “ sự cố sập nhà gây thiệt hại do lỗi hoàn toàn của bị cáo A”. Không những thế, trong quá trình THA bà H, ông C rất bức xúc khi bị gây khó khăn, phân biệt đối xử khi là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Cụ thể, Cục thi hành án dân sự tỉnh K yêu cầu ông C, bà H phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án, ra quyết định kê biên ngôi nhà bà H là chủ sở hữu thay phần ông A trong khi chưa xác định giá trị tài sản  cũng như khả năng thi hành án của ông A đến đâu mà chỉ năm lần bày lượt muốn THA là hết sức vô lý, thể hiện sự không khách quan của một cơ quan nhà nước.

Vụ việc đã có hướng đi khi bà H đã ủy quyền cho Luật sư Trần Xuân Tiền tham gia vụ án. Ngày 12/5/2022 sau khi nghiên cứu và vạch ra hướng đi, Luật sư đã tham gia buổi hòa giải giữa các bên tại Cục THADS tỉnh K. Tại buổi làm việc này, Luật sư được biết hoàn cảnh khó khăn của gia đình ông A khi vẫn làm việc, chật vật làm nghề thợ xây để kiếm thêm thu nhập trang trải sinh hoạt cho gia đình. Mặc dù có tận 04 người con ( lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1997) nhưng chớ trêu thay họ đều mắc khuyết tật và người con dâu của ông cũng vậy. Bởi vậy, để ông có thể thi hành quyết định bồi thường 1.444.525.000 đồng cho các bị hại theo bản án của Tòa là một điều rất khó khăn.

Hiểu được hoàn cảnh cũng như cảm nhận được sự thiện chí của vợ chồng ông A trong việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án, Luật sư thấy rằng việc làm đơn đề nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm đổi với bản án sơ thẩm và phúc thẩm của Tòa án đã  tuyên là không cần thiết và  chỉ làm phức tạp thêm vấn đề và tốn thời gian cho các bên. Mấu chốt của vấn đề là giải quyết nhanh nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại bằng cách đề nghị ông C – bà H cùng thực hiện nghĩa vụ bồi thường cùng với gia đình ông A. Điều này không chỉ giúp nhanh  kết thúc việc thi hành bản án, đảm bảo quyền lợi cho các bị hại, kịp thời chia sẻ thiệt hại về vật chất và tinh thần cho gia đình của họ cũng như đối với hoàn cảnh hiện tại của gia đình ông A. Đồng thời, việc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cũng là một căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xem xét giảm án tù cho ông A.

Ban đầu, gia đình bị cáo A không muốn thực hiện nghĩa vụ vì như đã đề cập ở trên, hoàn cảnh của họ rất khó khăn, họ quá khổ, muốn buông xuôi mọi thứ nhưng Luật sư đã phân tích, định hướng và chia sẻ thật tâm với gia đình bị báo, Luật sư biết việc thi hành án với một số tiền như trên đối với gia đình ông A cực kỳ khó khăn nhưng gia đình bị cáo cũng phải hiểu được tình người, sự giúp đỡ gia đình của bị cáo A và mong muốn được trở về với gia đình của người chồng, người cha nghèo khổ của họ. Những câu nói như chạm đến tâm can, thức tỉnh gia đình ông A phải hành động để không phụ lòng của người Luật sư từ Hà Nội xa xôi định hướng cách giải quyết mà không mong nhận được sự đền đáp cao sang gì. Chính vì vậy, chỉ sau vài ngày, Luật sư đã thấy được nỗ lực, quyết tâm vượt qua rào cản tâm lý, gia đình bị cáo đã nhanh chóng xoay sở nộp tiền cho Cục THADS với số tiền 200.000.000 đồng.

Như vậy, gia đình ông A đã thi hành một phần bản án hình sự về nghĩa vụ bồi thường, cái mà trước kia họ cho là khó thực hiện được và khá xa vời. Đối với số tiền bồi thường còn lại cơ quan thi hành án tiếp tục yêu cầu gia đình ông C, bà H thi hành án nhưng vì hoàn cảnh gia đình khó khăn ở Mỹ do ảnh hưởng của dịch Covid 19, gia đình ông C, bà H vẫn chưa thực hiện được nghĩa vụ ngay được. Cục thi hành án lại có động thái tiếp tục kê biên căn nhà, tuy nhiên Luật sư hoàn toàn khẳng định việc Cục THA tỉnh K kê biên căn nhà là trái luật. Bởi việc gia đình ông A đã thực hiện được một phần nghĩa vụ của người thi hành án, tức ông A rõ ràng có điều kiện thi hành án, nhưng ngay từ đầu Cục THA chỉ muốn nhanh chóng THA mà lại kê biên căn nhà của ông C, bà H.

Mặc dù vậy, với suy nghĩ tiền bạc ăn bao nhiêu cũng hết, cái quan trọng tình người, là phải giúp đỡ ông A, Luật sư tiếp tục chủ động trao đổi với vợ chồng ông C, bà H đang ở nước ngoài.

Tại biên bản làm việc ngày 16/06/2022, gia đình số nhà 294 đã đồng ý miễn cho ông A số tiền 22.642.380 đồng, gia đình số nhà 296 đồng ý miễn số tiền 70.000.000 đồng. Tiếp đó, ngày 15/07/2022, bà H đã thực hiện nghĩa vụ THA với số tiền 565.000.000 đồng.

Tuy nhiên, đến ngày 19/07/2022, trong biên bản làm việc, phía gia đình số nhà 296 đã đưa ra lý do: “ Trong thời gian qua, kể từ khi xảy ra sự việc, vợ chồng tôi phải đi thuê mặt bằng để tiếp tục mua bán và để gia đình ở. Số tiền này phát sinh từ năm 2017 đến nay cũng khá lớn. Do vậy, chúng tôi không đồng ý miễn thi hành số tiền còn lại là 28.842.872 đồng. Đề nghị bên ông C, bà H, ông A tiếp tục thi hành số tiền còn lại”

Nhận được tin này Luật sư cũng không thể ngồi yên trước sự dồn ép người nghèo khổ vào đường cùng, ngay lập tức Luật sư liên hệ với vợ của người phải thi hành án trong lúc đang đi công tác Đà Nẵng, Luật sư nhấn mạnh “ Tham lam là liều thuốc độc!” mặc dù khó khăn cũng phải ghi nhớ “Nghèo nhưng không hèn, giàu nhưng không kiêu ngạo là cái gốc của bậc quân tử cao minh.” Vì khó cũng đã khó, cái cốt là phải nhanh chóng khép lại nỗi đau, phải biến sự bất hạnh thành sức mạnh.

Vụ việc đã kéo dài 05 năm đến ngày 25/07/2022 đã chính thức khép lại, gia đình ông A đã thi hành xong số tiền còn lại theo định hướng của Luật sư.

Như vậy, trong vòng 02 tháng Luật sư bằng kinh nghiệm của mình, vận dụng kĩ năng thuyết phục một cách nhần nhuyễn. Đúng như cái tên mà các phóng viên của đài truyền hình gọi Luật sư “ Luật sư quốc dân”, một người Luật sư có tâm, có tầm, đặt lợi ích của khách hàng – những con người cơ cực lên trên lợi ích bản thân, hết lòng vì khách hàng.

Người Luật sư với nhiệt huyết cao cả đã vui mừng đến phát khóc, vui mừng vì đã giúp được một người trụ cột của gia đình nghèo sắp có cơ hội được ân xá, vui mừng vì những nỗ lực của bản thân đã không uổng phí, vui mừng vì những nỗi đau, niềm trắc trở của những người trong vụ án đã khép lại. Những người phải thi hành án cũng không khỏi giấu nổi sự hạnh phúc khi vụ việc của họ kéo dài trong thời gian khá lâu, nhưng Luật sư chỉ mới vào giúp đỡ vụ việc đã có những bước tiến triển vượt bậc và đã kết thúc chuỗi ngày khó khăn của các gia đình liên quan.

Thông tin liên hệ: 

Văn phòng luật sư Đồng Đội: P2708, Tòa nhà VP3 Bán đảo Linh Đàm, Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội.

Điện thoại:  0936.026.559 –  Email: tranxuantien1964@gmail.com

Websitehttps://dongdoilaw.vn

Facebookhttps://www.facebook.com/dongdoilaw

Youtube: https://www.youtube.com/c/VănphòngluậtsưĐồngĐội

Tiktokhttps://www.tiktok.com/@vpls_dongdoi

 

 

Xem tiếp

LUẬT SƯ VỚI VIỆC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Thi hành án dân sự là việc tổ chức thi hành các bản án, quyết …