Trang chủ / Tin tức / Blog / Những lưu ý khi thỏa thuận thi hành án dân sự

Những lưu ý khi thỏa thuận thi hành án dân sự

Bản án, quyết định của Tòa án chỉ là kết quả về mặt pháp lý, để được thực hiện trên thực tế thì phải trải qua giai đoạn thi hành án. Theo đó, thi hành án dân sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tố tụng dân sự, nhằm bảo đảm cho bản án, quyết định của tòa án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm các quyền, lợi ,ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; đồng thời góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội, tăng cường hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Trong quá trình thi hành án, các đương sự có quyền tự thỏa thuận về việc thi hành án. Vậy khi thỏa thuận về việc thi hành án, chúng ta cần có những lưu ý gì, hãy theo dõi bài viết dưới đây của chúng tôi để tìm hiểu nhé.

1.Thi hành án dân sự là gì?

thi hành án dân sự

Hiện nay, pháp luật không có định nghĩa về thi hành án dân sự. Tuy nhiên, căn cứ theo Điều 1 Luật Thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung 2014 có thể hiểu thi hành án dân sự là trình tự, thủ tục thi hành:

– Bản án, quyết định dân sự;

– Hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự;

– Phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án;

– Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản;

– Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành;

– Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại.

2. Quyền thỏa thuận trong thi hành án dân sự

Theo Khoản 2 Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015, cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, theo đó, việc thỏa thuận thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự là quyền tự do của cá nhân, pháp nhân.

Trong thi hành án dân sự, quyền tự thỏa thuận của các bên cũng được pháp luật thừa nhận, bảo đảm. Theo đó, các bên đương sự có quyền thỏa thuận với nhau về việc thi hành án, cụ thể là bàn bạc, trao đổi để đi đến thống nhất thi hành một phần hay toàn bộ nội dung bản án, quyết định dân sự trên cơ sở quyền và nghĩa vụ dân sự đã được xác lập theo bản án, quyết định dân sự đó. Thỏa thuận thi hành án dân sự đã được quy định tại Điều 6 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, hướng dẫn tại Nghị định số 62/2015/NĐ-CP sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 33/2020/NĐ-CP. thi hành án dân sự

Theo đó, khi thỏa thuận thi hành án dân sự, cần lưu ý những điều sau: 

Thứ nhất, về chủ thể thỏa thuận thi hành án: người tham gia thỏa thuận về thi hành án là đương sự bao gồm người được thi hành án và người phải thi hành án. Trên thực ế, tùy từng vụ việc cụ thể thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia cũng có thể tham gia thỏa thuận thi hành án.

Thứ hai, về nguyên tắc thỏa thuận thi hành án, nội dung thỏa thuận không được vi phạm điều cấm pháp luật, thỏa thuận không được trái đạo đức xã hội và không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người thứ ba (cá nhân/tổ chức có quyền, lợi ích liên quan hoặc lợi ích công cộng) hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.

Thứ ba, về hình thức thỏa thuận, thỏa thuận về thi hành án phải được lập thành văn bản thể hiện rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận và có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia.

Để nội dung thỏa thuận không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì khi chứng kiến hoặc ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự cần phải có thêm người thứ ba, nếu có.

Các bên đương sự có thể yêu cầu Chấp hành viên chứng kiến việc thỏa thuận về thi hành án. Và Theo quy định mới của Nghị định 33/2020/NĐ-CP, việc chứng kiến thỏa thuận phải được thực hiện tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự, đây là một trong những nội dung mới được sửa đổi. Vì trước đây, theo quy định của Nghị định 62/2015, việc yêu cầu Chấp hành viên chứng kiến thỏa thuận có thể được thực hiện tại trụ sở cơ quan Thi hành án dân sự hoặc ngoài trụ sở Cơ quan thi hành án dân sự. Nếu việc chứng kiến thỏa thuận ngoài trụ sở cơ quan Thi hành án dân sự mà phát sinh chi phí thì người yêu cầu Chấp hành viên chứng kiến phải thanh toán chi phí hợp lý cho Cơ quan thi hành án dân sự.

Thứ tư, về nội dung thỏa thuận thi hành án cần nêu rõ: Thời gian, địa điểm thi hành án; Phương thức, nội dung thi hành án (Thỏa thuận thi hành án một phần hay toàn bộ nghĩa vụ phải thi hành án; hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, v.v,…)

Thứ năm, thời điểm thỏa thuận thi hành án: việc thỏa thuận thi hành án có thể diễn ra ở bất kỳ thời điểm nào, nhằm đảm bảo quyền lợi của các bên, cụ thể:

  • Trường hợp đương sự lập thỏa thuận thi hành án trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan Thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án, thì các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì bên có quyền được yêu cầu thi hành án đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.
  • Trường hợp cơ quan Thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án, đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận. Trường hợp bên có nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận thì người được thi hành án thông báo kết quả đã thi hành theo thỏa thuận và đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự tiếp tục tổ chức thi hành án.
  • Trường hợp cơ quan Thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án và việc thỏa thuận thi hành án được thực hiện sau khi tài sản đã được bán hoặc giao cho người khác nhận để thi hành án thì phải được sự đồng ý của người mua được tài sản hoặc người nhận tài sản để thi hành án.

Thứ sáu, về phí thi hành án, nếu các đương sự có thỏa thuận thi hành án và đã tự giao, nhận tiền, tài sản cho nhau trong trong thời hạn tự nguyện thi hành án thì người được thi hành án không phải chịu phí thi hành án.

Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án nhưng chưa ra quyết định cưỡng chế thi hành án hoặc đã ra quyết định cưỡng chế thi hành án nhưng chưa thực hiện việc cưỡng chế thi hành án mà các bên đương sự thỏa thuận việc thi hành án, tự giao, nhận tiền, tài sản cho nhau thì người được thi hành án phải nộp 1/3 mức phí thi hành án dân sự theo quy định tại tính trên số tiền, tài sản thực nhận.

Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã thu được tiền hoặc đã thực hiện việc cưỡng chế thi hành án thì người được thi hành án phải nộp 100% mức phí thi hành án dân sự theo quy định tính trên số tiền, tài sản thực nhận.

Có thể thấy quy định về thỏa thuận thi hành án hiện hành đã có một số thay đổi, khắc phục được những thiếu sót so với quy định cũ. Cụ thể, Luật thi hành dân sự trước đây quy định khi các bên đã thỏa thuận thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành sẽ không tiếp tục can thiệp. Điều này đồng nghĩa với việc vấn đề sau khi thỏa thuận các chủ thể không thực hiện không được xem xét, gây ra những bất cập như nếu người phải thi hành án không thực hiện theo thỏa thuận nữa thì người được thi hành án phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình, cơ quan thi hành án có thẩm quyền cưỡng chế trong trường hợp này không… ? Thế nhưng theo quy định hiện hành, sau khi các bên thỏa thuận nếu không thực hiện, cơ quan thi hành án sẽ có trách nhiệm quay lại thực hiện việc thi hành án, nhằm đảm bảo việc thi hành án được thực hiện, bảo vệ quyền lợi cho các bên.

Như vậy, việc các đương sự thực hiện quyền tự thỏa thuận trong quá trình thi hành án có ý nghĩa rất quan trọng, trong tạo điều kiện để các bên trao đổi về phương hướng thi hành án, góp phần thúc đẩy việc thi hành án nhanh chóng, rút ngắn thời gian, đỡ tốn kém công sức, tiền bạc để tổ chức thi hành án, đồng thời giúp các bên giữ mối quan hệ tình cảm với nhau. 

Thông tin liên hệ: 

Văn phòng luật sư Đồng Đội: P2708, Tòa nhà VP3 Bán đảo Linh Đàm, Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội.

 Điện thoại:  0936.026.559 –  Emailtranxuantien1964@gmail.com

Websitehttps://dongdoilaw.vn

Facebookhttps://www.facebook.com/dongdoilaw

Youtube: https://www.youtube.com/c/VănphòngluậtsưĐồngĐội

Tiktokhttps://www.tiktok.com/@vpls_dongdoi

Người viết: Lan Anh 

Xem tiếp

Những vấn đề pháp lý về tranh chấp và phân chia di sản thừa kế

“KHÔNG ĐÒI CHIA THỪA KẾ KHÔNG CÓ NGHĨA LÀ CÁC ĐỒNG THỪA KẾ KHÔNG HIỂU …